Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt Nam trong dòng lịch sử

Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt Nam trong dòng lịch sử
CGvST | 25/07/2026

Kính thưa cộng đoàn, mới đây, fanpage Tủ Sách Dịch Công Giáo đã đăng tải bài viết mang tựa đề “Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt trong dòng lịch sử”.

Qua việc điểm lại nhiều trường hợp gây tranh luận từ quá khứ đến hiện tại, tác giả đặt ra vấn đề về ranh giới giữa sự kiên định, tinh thần ngôn sứ và thái độ ngoan cố bất tuân, đồng thời dành riêng một phần để phân định trường hợp Cha Antôn Đặng Hữu Nam, bởi vụ việc của ngài còn đan xen nhiều yếu tố xã hội và chính trị bên ngoài Giáo hội.

Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt Nam trong dòng lịch sử
Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt Nam trong dòng lịch sử

Dưới đây là nội dung bài viết:

Sự cứng đầu của một số giáo sĩ Việt trong dòng lịch sử

Trong Hội Thánh, giữa lòng vâng phục và lòng xác tín riêng đôi khi chỉ có một khoảng cách rất hẹp mà cũng rất sâu. Người ta dễ ngợi ca đức vâng lời như nhân đức nền tảng của bậc giáo sĩ, nhưng lịch sử lại lưu giữ không ít khuôn mặt đi ngược dòng, những vị mà hậu thế lúng túng không biết gọi là kiên trung hay ngoan cố, là ngôn sứ hay kẻ nổi loạn. Ranh giới ấy mong manh, và chính sự mong manh đó khiến những trường hợp này đáng để suy gẫm hơn là để vội vàng lên án. Người Việt chúng ta, dưới lớp vỏ vâng lời quen thuộc, cũng góp vào kho tàng ấy vài khuôn mặt không dễ quên, mỗi người cứng đầu theo một cách riêng.

Xa nhất trong dòng thời gian là thầy cả Philipphê Bỉnh. Ngài sinh năm 1759 tại Hải Dương, thụ phong linh mục Dòng Tên. Câu chuyện của ngài gắn liền với một định chế nay đã xa lạ, đó là chế độ padroado hay chế độ bảo trợ. Đây là thỏa thuận có từ cuối thế kỷ mười lăm, theo đó Tòa Thánh trao cho Bồ Đào Nha quyền bảo trợ công cuộc truyền giáo ở phương Đông. Bồ Đào Nha lo việc đưa đón, chu cấp, che chở các thừa sai, đổi lại việc bổ nhiệm giám mục và giáo sĩ tại những vùng đất ấy phải được triều đình Lisbon chấp thuận. Đến thời Bỉnh, chế độ này đã lỗi thời và va chạm gay gắt với hệ thống các Đại diện Tông tòa mà Tòa Thánh thiết lập qua Bộ Truyền giáo. Khi quyền lợi của cộng đoàn Công giáo padroado ở Đàng Ngoài bị đe dọa, người ta cử một phái đoàn do chính Bỉnh dẫn đầu sang tận Bồ Đào Nha, xin nhà vua can thiệp với Tòa Thánh. Phái đoàn lên đường năm 1796, lênh đênh sáu tháng trên biển mới tới được châu Âu.

Rồi việc không thành. Vua Bồ, sau cuộc cách mạng năm 1820, mất dần quyền lực và không còn bận tâm đến thỉnh nguyện của một linh mục An Nam. Nhưng Bỉnh không về. Ngài ở lại Lisbon hơn ba mươi năm, đằng đẵng cho đến khi qua đời năm 1832, thọ bảy mươi bốn tuổi, tương truyền phái đoàn đã mười lăm lần dâng khải lên nhà vua. Điều mỉa mai, và cũng chính là điều cứu câu chuyện này khỏi bi kịch thuần túy, là suốt những năm lưu vong vô vọng ấy Bỉnh cầm bút. Ngài để lại hai mươi mốt bộ sách chữ Quốc ngữ, trong đó cuốn Sách sổ sang chép các việc trở thành kho tư liệu vô giá cho việc nghiên cứu chữ Quốc ngữ và đời sống Công giáo Việt Nam buổi giao thời. Người bám chặt một chế độ đã tàn, cuối cùng lại làm nên di sản bằng chính cây bút của mình. Sự cứng đầu của ngài không cứu được padroado, nhưng lại để cho hậu thế một pho sử liệu.

Nếu Bỉnh là bi kịch của lòng trung thành với một định chế lỗi thời, thì Tổng giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục là bi kịch của một con người bị nghiền nát giữa lịch sử và một niềm tin lạc hướng. Ngài sinh năm 1897 tại Phủ Cam, Huế, trong một gia đình vọng tộc. Năm 1961 ngài được cất nhắc làm Tổng giám mục Huế, người Việt Nam đầu tiên cai quản một tổng giáo phận chính tòa, một vinh dự tột bậc. Nhưng biến cố tháng mười một năm 1963, với cái chết của các em ruột là Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng hai người em khác, đã đẩy ngài vào cảnh lưu vong và một cuộc khủng hoảng niềm tin sâu thẳm. Từ đó con đường của ngài rẽ vào bóng tối. Ngài ngả theo trào lưu chống lại những cải tổ của Công đồng Vaticanô II, gia nhập phong trào mang tên Giáo hội La Mã Chính thống. Ngày mồng một tháng Giêng năm 1976, ngài tự tay tấn phong giám mục cho một nhóm ly giáo ở Palmar de Troya bên Tây Ban Nha, nơi về sau còn dựng lên cả một ngụy giáo hoàng. Tòa Thánh lập tức ra vạ tuyệt thông. Năm 1981 ngài lại tiếp tục tấn phong bất hợp thức thêm ba người theo thuyết trống ngôi, và bị vạ lần nữa.

Điều đau lòng nhất trong câu chuyện này là mô típ lặp đi lặp lại. Ngài nhiều lần hối lỗi, được tha vạ, được phục hồi chức vị, rồi lại tái phạm. Người ta có lý khi ngờ rằng vị Tổng giám mục già nua, cô độc, mất hết người thân, đã bị các nhóm ly giáo cô lập và lợi dụng chính danh nghĩa của ngài. Cuối cùng, năm 1984 ngài được đưa về Hoa Kỳ, hòa giải với Giáo hội và qua đời tại Missouri trong sự chăm sóc của Dòng Đồng Công. Chữ cứng đầu ở đây có lẽ phải viết bằng nước mắt hơn là bằng lời trách móc. Cũng nên nhớ rằng người thầy đứng sau bi kịch của ngài lại là một người ngoại quốc, Tổng giám mục Marcel Lefebvre người Pháp, người mà đến tận tháng bảy năm nay, sau ba mươi tám năm và bao nỗ lực hòa giải của mấy đời giáo hoàng, huynh đoàn do ngài lập ra vẫn một lần nữa tấn phong giám mục trái ý Tòa Thánh. Ngô Đình Thục, xét cho cùng, chỉ là một nhánh Việt Nam của cùng cái cây cứng đầu ấy.

Bước sang thời chúng ta đang sống, câu chuyện chuyển về Vĩnh Long với linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tường, và nó mở ra một dạng cứng đầu mới, không phải để bảo vệ một định chế cũ hay một trào lưu bên ngoài, mà để bảo vệ chính giáo lý riêng do mình nghĩ ra. Cha Tường là một linh mục còn khá trẻ, chịu chức năm 2007, làm chánh sở nhà thờ Thành Thới thuộc Mỏ Cày Nam, Bến Tre. Các bài giảng của ngài được phát tán rộng trên mạng và chứa những điều mà giáo quyền xác định là sai lạc nghiêm trọng. Theo bản tường trình của giáo phận, ngài giảng rằng Chúa không thực sự trao quyền tha tội cho Thánh Phêrô, rằng con người không sống lại sau khi chết, rằng ai ăn thịt động vật thì không được Chúa chúc phúc và con người phải ăn chay trường chỉ ăn rau củ. Khi được giáo quyền mời về nhắc nhở, ngài không những không vâng phục mà tình hình còn trầm trọng thêm khi giáo dân theo ngài la ó, xúc phạm hàng giáo sĩ trong giáo hạt, tất cả lại được quay video tung lên mạng gây gương xấu. Ngài nhất mực không nhận mình sai.

Tháng năm năm 2014, Tòa Giám mục Vĩnh Long tuyên bố ngài mắc vạ tuyệt thông tiền kết, buộc rời chức chánh sở về tu dưỡng sám hối, và về mặt giáo luật kể từ đó ngài chỉ còn tư cách một giáo dân, không được quy tụ giáo dân để giảng dạy. Nhưng ngài không tuân theo. Câu nói của ngài được ghi lại, rằng tôi không bị bệnh, tại sao tôi bị yêu cầu về hưu, tôi đã không làm điều gì sai trái cả, gói trọn cái khí chất mà đề tài này muốn khắc họa, đó là một xác tín không lay chuyển về sự vô tội của chính mình ngay trước phán quyết của bề trên hợp pháp. Đáng để ý là lúc ấy Vĩnh Long đang trống tòa sau khi Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân qua đời, cho thấy sự cứng đầu đôi khi bén rễ dễ hơn trong những khoảng trống quyền bính.

Sau cùng, và gần với thời sự nhất, là câu chuyện Nhóm Trừ Quỷ Bảo Lộc tại Lâm Đồng, trong lòng Giáo phận Đà Lạt, cho thấy cái khí chất ấy chưa hề tuyệt tự. Nhóm này quy tụ quanh một phụ nữ tên Nguyễn Thị Thương, người tự xưng được Chúa Cha trực tiếp mạc khải và làm thư ký cho Chúa Cha, một xác quyết mà Ủy ban Giáo lý Đức tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã thẳng thừng bác bỏ vì trên thực tế nó phủ nhận vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Linh mục Đaminh Nguyễn Chu Truyền thuộc Giáo phận Đà Lạt, dù đã bị Đức cha Nguyễn Văn Mạnh ra vạ huyền chức, vẫn tiếp tục dâng lễ và còn cùng bà Thương lập một dòng mới mang tên Thiên thần Ánh sáng, khiến Tòa Giám mục phải cảnh cáo cả khả năng đề nghị Tòa Thánh giải bậc giáo sĩ. Linh mục Martinô Mai Anh Tuấn thuộc Dòng Ngôi Lời, chịu chức năm 2009 tại Chicago và được sai đi truyền giáo ở Đài Loan, cũng theo nhóm này. Tháng mười hai năm 2020 bề trên giám tỉnh ra vạ huyền chức với ngài vì lý do, nguyên văn trong thông báo, ngoan cố bất tuân bề trên. Ngài không dừng. Tháng bảy năm 2021 Bề trên Tổng quyền ra sắc lệnh sa thải khỏi Dòng, và tháng tám năm 2021 chính Tòa Thánh chuẩn y việc sa thải ấy. Cả một chuỗi thẩm quyền từ giám tỉnh, tổng quyền cho đến Tòa Thánh đều lên tiếng mà ngài vẫn giữ nguyên lựa chọn của mình. Cùng với hai linh mục còn có ít nhất một nữ tu, sơ Nguyễn Thị Thúy, bị Hội dòng Nữ Đaminh sa thải cũng vì lý do tương tự.

Có một trường hợp mà tôi xin đặt riêng ra, không phải để xếp chung mà chính là để phân định, đó là linh mục Antôn Đặng Hữu Nam của Giáo phận Vinh. Về mặt hình thức, câu chuyện của ngài mang đủ những dấu hiệu quen thuộc. Ngài từng là chánh xứ, bị Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long cho tạm nghỉ mục vụ từ giữa năm 2020, rồi bị treo chén cuối năm 2021, và đến tháng bảy năm 2026 thì Tòa Giám mục Vinh ra sắc lệnh mở vụ án hình sự ngoại tư pháp để xét xử, tức tiến trình đã đi tới ngưỡng có thể dẫn đến việc trục xuất khỏi hàng giáo sĩ. Nhìn bề ngoài, đây lại là một câu chuyện bất tuân bề trên nữa. Nhưng nếu dừng lại ở đó thì tôi e là bất công, và cũng là lười biếng trong việc phân định. Gốc rễ vụ việc của cha Nam không nằm ở giáo lý hay ở một mạc khải tự xưng, mà ở các hoạt động xã hội và chính trị của ngài, đặc biệt là việc ngài dẫn dắt giáo dân trong vụ kiện thảm họa môi trường Formosa và các phát ngôn phê phán chính quyền. Đây là chỗ mà sự cứng đầu không còn thuần túy là chuyện giữa một linh mục với đấng bản quyền của mình, mà bị đan xen với các yếu tố từ bên ngoài Giáo hội. Chính vì thế, ngay trong lòng Giáo hội và cộng đồng tín hữu cũng không có một cái nhìn đồng thuận về ngài như đối với cha Tường hay nhóm Bảo Lộc.

Và còn rất nhiều rất nhiều trường hợp khác nữa đang diễn ra.

Đọc lại những khuôn mặt này, tôi thấy nổi lên một điều đáng suy gẫm. Sự cứng đầu tự nó không tốt cũng không xấu, nó chỉ là chất liệu thô. Đặt vào một cây bút, nó để lại di sản chữ nghĩa như trường hợp Bỉnh. Đặt sai chỗ, nó nuôi lớn ly giáo và chia rẽ như trường hợp muộn màng của Đức cha Thục, hay như bi kịch của cha Tường và những người ở Bảo Lộc. Điều đáng chú ý là cụm từ mà các văn thư giáo quyền lặp đi lặp lại không phải là sai lầm mà là bất tuân, cụ thể là ngoan cố bất tuân bề trên. Cốt lõi của sự cứng đầu, xét cho cùng, không nằm ở chỗ một người tin điều gì, mà ở chỗ người ấy đặt xác tín riêng lên trên sự hiệp thông và đức vâng phục mà mình đã tuyên khấn. Mỗi người trong số họ đều bám vào một điều khác nhau, Bỉnh bám vào một định chế đã lỗi thời, Thục bám vào một quá khứ và một trào lưu từ bên ngoài, cha Tường bám vào giáo lý riêng do mình nghĩ ra, còn nhóm Bảo Lộc bám vào một mạc khải tự xưng của người khác. Nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm, đó là khi lòng xác tín riêng tự phong cho mình thẩm quyền cao hơn cả Hội Thánh.

Có lẽ bài học cho hàng giáo sĩ Việt Nam không phải là đừng bao giờ cứng đầu, vì đôi khi Hội Thánh thật sự cần những người dám giữ vững điều đúng. Bài học đúng hơn là hãy luôn tự vấn xem điều mình đang bảo vệ là chân lý của Tin Mừng, hay chỉ là một định chế đã tàn, một vết thương chưa lành, một giáo lý riêng, hay lòng tự ái của chính mình.

(*) Chia sẻ từ Fanpage Tủ Sách Dịch Công Giáo

✍️ Bạn có ý kiến hoặc lập luận với bài viết, vui lòng bình luận tại đây: Tin Công Giáo 24h

Tin mới cập nhật