Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ – 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại

Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ - 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại
CGvST | 29/03/2025

Đức Mẹ hiện ra – Một phép lạ giữa trần thế?Đêm tĩnh lặng bao trùm ngôi thánh đường cổ kính, ánh trăng mờ ảo rọi xuống mái vòm cao vút. Chính tại nơi ấy, một sự kiện kỳ diệu đã xảy ra – Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ, trong ánh sáng huyền nhiệm, khiến lòng người rung động.

Không ai khác, một Đan viện phụ – bề trên tỉnh Dòng OSB Việt Nam – là nhân chứng sống của khoảnh khắc linh thiêng ấy. Với giọng kể đầy xúc động, ngài thuật lại những giây phút thiêng liêng khi bóng hình Đức Mẹ tỏa sáng giữa màn đêm, đem đến niềm hy vọng và sự an ủi cho những tâm hồn tín hữu.

Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ - 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại
Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ – 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại

Phải chăng đây là một dấu chỉ từ trời cao? Một thông điệp thiêng liêng gửi đến nhân loại? Hãy cùng lắng nghe lời kể của vị đan viện phụ để hiểu rõ hơn về phép lạ đã làm rúng động biết bao con tim…

Cảm Nghiệm Của Ðan Viện-phụ Huỳnh Quang Sanh Về Phép Lạ Của Ðức Mẹ Trà Kiệu

Tôi vẫn nhớ như in câu chuyện về phép lạ Đức Mẹ Trà Kiệu, một sự kiện đã thay đổi hoàn toàn gia đình tôi và dẫn dắt tôi đến với đời sống đức tin.

Đó không chỉ là một truyền thuyết mà chính là câu chuyện được kể lại từ cha và anh tôi, những người đã chứng kiến tận mắt những điều kỳ diệu mà Mẹ Maria đã thực hiện.

Ngày ấy, gia đình tôi chưa phải là người Công giáo. Bà nội tôi, một người phụ nữ mạnh mẽ, khi nghe tin quân đội Văn Thân đang bao vây nhà thờ Trà Kiệu, liền cầm lấy con dao xắt chuối cho heo ăn và chạy đến đó, dự định cùng những người ngoại giáo khác tấn công các tín hữu Công giáo đang cố thủ trong nhà thờ.

Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ - 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại
Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ – 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại

Nhưng khi đến gần, trước mắt bà là một cảnh tượng không thể tin nổi – trên đỉnh đồi Bửu Châu, một đoàn binh Thiên Thần mặc áo trắng từ trời giáng xuống đông đảo.

Một sức mạnh kỳ diệu khiến những kẻ đang có ý định sát hại người Công giáo hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn. Bà nội tôi cũng vứt dao, hoảng hốt quay về nhà.

Khi bà về đến nhà, bà cố tôi tức giận, trách mắng: “Mày đem dao đi giết người, rồi lại còn quăng dao đi! Bây giờ ai lấy gì mà xắt chuối cho heo ăn?” Nhưng chính sự kiện ấy đã làm bà nội tôi suy ngẫm và dần dần, cả gia đình tôi quyết định tìm hiểu về đức tin Công giáo.

Cuối cùng, ông bà nội, các bác và cha tôi đều trở lại đạo. Và cũng từ ân sủng đó, tôi đã nhận được ơn gọi để trở thành linh mục, để phục vụ Chúa và Mẹ Maria.

Đức Mẹ Trà Kiệu thực sự đã hiện ra để cứu vớt các tín hữu trong cơn nguy nan, biến nơi đây thành một trung tâm hành hương nổi tiếng. Mỗi năm, có hàng ngàn người từ khắp nơi tuôn về đây để kính viếng và xin ơn lành.

Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ - 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại
Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ – 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại

Tôi đã chứng kiến biết bao câu chuyện ơn phúc Mẹ ban cho những ai thành tâm tìm đến.

Là một Đan viện phụ của Đan viện Biển Đức Thiên An, tôi luôn giữ một mối liên kết thiêng liêng với Trung tâm Hành hương Trà Kiệu.

Mỗi năm, vào ngày 31 tháng 5, dịp lễ Đức Mẹ Đi Viếng, tôi cùng với hàng ngàn tín hữu quy tụ tại đây, hòa mình vào dòng người hành hương, cùng nhau tôn vinh và cảm tạ Mẹ.

Tôi mong rằng bất cứ ai có cơ hội về quê hương, xin hãy ghé thăm Đức Mẹ Trà Kiệu, để cảm nhận sự bình an và đón nhận những ơn lành mà Mẹ luôn sẵn lòng ban phát.

Đức Mẹ Trà Kiệu Hiện Ra Ngày 10/9-11/9/1885 Để Cứu Các Giáo Dân

Hôm 10/9/2016, kỷ niệm đúng 131 năm ngày mà Đức Mẹ Maria hiện ra tại giáo xứ Trà Kiệu, tình Quảng Nam để cứu các giáo dân thuộc giáo xứ Trà Kiệu, Việt Nam.

Chúng con kính dâng Mẹ lời cảm tạ và tri ân về tình yêu Mẫu Tử thiêng liêng mà Mẹ đã dành cho con cái nước Việt. Xin Mẹ tiếp tục cứu giúp dân tộc chúng con khỏi nạn nước mất nhà tan, khỏi cảnh xa đàn, xẻ nghé. Chúng con muôn đời tạ ơn và yêu mến Mẹ Hiền Thiên Đàng. Amen. (KH)

Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ - 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại
Đức Mẹ hiện ra trên nóc Nhà thờ – 1 Đan viện phụ bề trên tỉnh dòng OSB kể lại

Tình hình Giáo Xứ Trà Kiệu

Địa lý: Trà Kiệu mặt Đông có Non Trọc (Bửu Châu) cao 60m, mặt Tây bên kia suối có đồi Kim Sơn (Hòn Bằng) thấp hơn đồi Bửu Châu, cách đồi Bửu Châu chừng 1km, cách Nhà Thờ xứ chừng 120m. Về phía Nam cách cánh đồng khoảng hơn nửa cây số là dãy thành luỹ Chàm, (hiện nay có người ở trên thành này và được gọi là xóm Thành). Còn mạng Bắc có bãi cát rộng giáp ranh với tuyến phòng thủ của Giáo Xứ.

Nhân lực: Lúc bấy giờ, Trà Kiệu có khoảng 370 nam nhân có thể cầm vũ khí được, tuổi từ 16 đến 60 được chia làm 7 đội, và độ 500 phụ nữ được xếp vào đội dự bị (đội 8).

Khí giới: Chỉ có 4 khẩu nạp hậu, mỗi cây có 10 viên đạn, cộng với 5 khẩu bắn đá và 1 khẩu súng hoả mai cùng một số vũ khí tự đúc được.

@ Nhìn chung Trà Kiệu không hề chuẩn bị phòng vệ, một phần vì chủ quan, một phần cũng vì Cha Bruyère tin vào lời hứa của đại uý Ducres là sẽ lập tức tiếp cứu nếu như Trà Kiệu bị bao vây.

Với tình hình bất lợi mọi mặt như vậy, khi Trà Kiệu bị tấn công Cha Bruyère (Cố Nhơn) chỉ còn biết “hoàn toàn phó thác và trông cậy vào Chúa và Mẹ”. Cha đặt một bàn thờ Đức Mẹ giữa nhà và thắp nến hai bên, quyết cùng Mẹ chiến đấu. Thật thế, chúng ta hãy theo dõi cuộc chiến thì sẽ rõ.

Trà kiệu – Ất Dậu kí sự

Sau khi tàn sát, bách hại khắp nơi, xế trưa ngày 1–9–1885 quân Văn Thân ùn ùn kéo đến bao vây Giáo Xứ Trà Kiệu. Ban đầu họ lo củng cố vị trí chiến đấu, phần giáo dân cũng lập tức kéo lên giữ đồi Kim Sơn.

Nhưng mới chỉ sang ngày thứ hai (2-9) giáo dân quá sợ đến độ bỏ đồi Kim Sơn, trong khi rút lui bị té chết mất 4 người. Và không khí ảm đảm bởi thất đởm bao trùm toàn Giáo Xứ. Đã vậy khi Cố Nhơn (Bruyère) cho người đi báo cho đội hai hãy lui về để dễ phòng thủ thì người báo tin lại bảo rằng Cha lệnh tập trung về Nhà Thờ để lãnh nhận các bí tích sau hết và chờ chết.

May thay đội trưởng đội hai không tin, cùng lúc đó quân Văn Thân đến tấn công. Thay vì rút lui thì đội hai lại chống trả và đã dành chiến thắng, thu được một khẩu đại bác. Nhưng không vì vậy mà tinh thần giáo dân trở nên hăng hái lên được.

Đêm về giáo dân lại phải cứ 5 phút là nghe hô: “Ớ các đội, các vệ, phải canh giữ cho nghiêm ngặt, đừng cho đứa nào thoát nghe”. Về sau đêm nào cũng vậy khiến giáo dân càng khiếp đảm hơn.

Cố Nhơn buồn khôn tả, Cha đặt mọi nương tựa nơi Mẹ Maria. Nhờ vậy, Cha lấy lại được tinh thần, ngay đêm đó Cha gọi các vị chỉ huy đến và khẳng định với họ là phải chiến đấu tự vệ. Và giáo dân quyết tâm chiến đấu đến cùng. Ngày 3-9 giáo dân đã anh dũng chiến đấu từ sáng sớm đến chiều tối.

Tuy chiến thắng, nhưng quân Văn Thân vẫn còn đó quá đông nên giáo dân lại đâm ra chán nản, có viên chức đưa ra ý kiến “đầu hàng”. Quá bi đát và tuyệt vọng nhưng nhờ có ông Trương Phổ[8] gan dạ đầy chí khí đã khơi dậy được tinh thần của giáo dân.

Đồng thời cũng nhờ thầy Phận khi nghe lời mỉa mai của quân Văn Thân: “Cố Thiên (Maillard) đến cứu bay đó” thì thầy Phận đã hô hào phải đánh để mở đường cho Cố Thiên ở Phú Thượng đem binh đến giải vây. Lời nói hùng hồn của hai người đã làm bừng lên lửa chiến đấu tự vệ trong lòng giáo dân. Và họ đã quyết chiến đấu trong niềm tin tưởng phó thác cho Chúa và Mẹ Maria.

Phần Cha Bruyère, Cha rất buồn, mất ăn mất ngủ, phải cạo râu và cải trang để tránh bị phát hiện, vì quân Văn Thân đóng quá gần. Từ hai ngọn đồi họ bắn xuống, đặc biệt khi thấy “Tây dương đạo trưởng” (Cha Bruyère). Cha Bruyère bảo với Cha Geffroy[9] rằng trong những đêm dài vô tận đó, Cha khóc rất nhiều, nhưng thường khóc vì vui mừng trước sự chở che của Đức Mẹ.

Nhờ tinh thần đã lên nên sang ngày 4-9 giáo dân đẩy lui được hai đợt tấn công của quân Văn Thân, một vào buổi sáng, một vào buổi chiều. Cứ mỗi lần ra trận họ hô:

“Hè, hè, Giêsu, Maria, Giuse, xin thương chúng con, xin chở che chúng con”.

Và liền sau khi chiến thắng họ lại đến quỳ trước ảnh Mẹ cầu nguyện tạ ơn. Có lúc còn đang cầu nguyện họ lại phải ra trận. Và cứ vậy giáo dân không bao giờ quên trở lại cảm tạ Đức Mẹ.

Ngày 5 và 6 tháng 9 quân Văn Thân quyết định làm luỹ vây chặt Giáo Xứ; “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”.

Ngày 7 tháng 9 giáo dân đến xin Đức Mẹ cầu bầu, chở che đồng thời được Cha xứ khích lệ, họ đã ra trận cách dũng mãnh và phá được luỹ vây của quân Văn Thân. Đội dự bị nữ (đội 8) được nổi tiếng trong ngày chiến thắng vẻ vang này.

Cuộc chiến diễn ra phía Bắc của Giáo Xứ. Quân Văn Thân trong trận này do Ông Ích Thiện, con trai của tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm, chỉ huy.

Sang ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ (8 tháng 9) là một ngày khủng khiếp. Thánh lễ vừa xong là giáo dân phải ra trận ngay và liên tục bị đẩy lui đến Phước Viện, vì quân Văn Thân quá đông lại được đạn từ hai đồi Bửu Châu và Kim Sơn bắn xối xả xuống yểm trợ. Cuối cùng đội nữ dự bị phải ra trận, họ đã chiến đấu rất dũng mãnh, nhờ vậy giáo dân Trà Kiệu lại dành được chiến thắng.

Vì quyết tâm tấn công “sào huyệt” của Giáo Xứ nên ngày 9–9 quân Văn Thân kéo thần công đến đặt trên đồi Kim Sơn và Bửu Châu.

Thật tàn khốc! bước sang ngày 10–9 quân Văn Thân nã thần công rất khủng khiếp, vang dội cả tỉnh, đến độ cách cảng Đà Nẵng 25km về phía Nam các sĩ quan Pháp trên một tàu chiến đã nghe và đếm được khoảng 500 quả đại bác bắn vào Giáo Xứ Trà Kiệu chỉ trong một ngày (Nécrologe du P. Bruyère p. 455, 1.37-39).

Ở Phú Thượng, cách Trà Kiệu khoảng 40km, giáo dân nghe súng nổ phát kinh hoàng, chính Cố Thiên (Maillard) cũng xao xuyến lo cho số phận của Trà Kiệu cũng như số phận của Cha Bruyère.

Quân Văn Thân cứ nhắm bắn Nhà Thờ và nhà Cha Bruyère vì Cha là linh hồn của Giáo Xứ, và nếu Thánh đường đổ thì giáo dân Trà Kiệu sẽ mất hết tinh thần. Vậy mà lạ thay, Nhà Thờ không hề hấn gì ngoại trừ trúng một quả ở phía sau. Còn nhà Cha xứ bị trúng 5 phát. Nhưng Cha Bruyère vẫn bình an vô sự.

Xin cũng nói thêm rằng trong các loại súng được dùng trong cuộc tấn công Trà Kiệu của quân Văn Thân, thì có một khẩu rất lớn được đặt cách Nhà Thờ khoảng 100m và do một cựu võ quan thiện xạ sử dụng, nhưng chỉ bắn trúng Thánh đường mỗi có 1 quả và nhà xứ 5 quả, há không phải chuyện lạ lắm ru !

Quân Văn Thân ra giá từ 20 đến 50 nén bạc (khoảng 1.800 đến 2.000 quan Pháp) thưởng cho ai bắt được Cha. Có ba lần Văn Thân lọt được vào làng, song cả 3 lần nhờ ơn Đức Mẹ, Cha thoát được khỏi sự nguy hiểm.

Suốt ngày 10–9 và ngày 11–9, quân Văn Thân không ngừng kêu lên:

“Thật lạ lùng, có một người ĐÀN BÀ rất đẹp luôn đứng trên nóc Nhà Thờ mà chúng ta không sao bắn trúng”. Phần mình, giáo dân Trà Kiệu, cả Cha xứ nữa, khi nghe như vậy cố nhìn lên nóc Nhà Thờ nhưng không ai được thấy.

Rồi còn có cả 1 “đạo quân trẻ em” nữa. Trong một số trận đánh nhất định quân Văn Thân kêu lên họ không chỉ đánh với giáo dân mà còn có “đạo quân trẻ em” từ trời xuống tiếp ứng. Có vậy họ mới không thể bình địa được làng Trà Kiệu.

Đây quả là “dấu chỉ lòng xót thương của Thiên Chúa đối với họ (giáo dân Trà Kiệu). Và chính Mẹ Maria bằng cách này hay cách khác, cũng thể hiện lòng từ ái chở che của Mẹ”.

Ngày 11–9 lại còn khủng khiếp hơn vì giáo dân Trà Kiệu phải giao chiến với hoả lực đại pháo bắn trực xạ vào Giáo Xứ. Trong trận này các Sœur Phước Viện đã dũng cảm tham chiến và cùng với toàn Giáo Xứ dành chiến thắng. Và có một Sœur bị tử thương.

Cha Bruyère thấy quân Văn Thân trên đồi Kim Sơn quá nguy hiểm. Cha quyết định bằng mọi cách lấy lại đồi này. Và mọi người nhất tâm rạng sáng sớm ngày 12–9 sẽ cử một đội cảm tử lên lấy đồi Kim Sơn.

Tâm hồn Cha nặng trĩu âu lo cho giờ đã định. Khi trời sáng Cha Bruyère ra chỗ trống nhằm gây sự chú ý của quân Văn Thân để cho các cảm tử quân hành quân động. Trong khi quân Văn Thân vừa mới ngủ dậy đang búi tóc và nhìn Cha Bruyère thì đội quân cảm tử tiến gần đến đỉnh đồi.

Cùng lúc quân Văn Thân phát hiện có giáo dân đột kích cũng là lúc đội cảm tử lên đến đỉnh đồi và họ lập tức hô xung phong tấn công. Quân Văn Thân hoảng sợ bỏ chạy. Đội cảm tử hoàn toàn chiếm lại được đồi Kim Sơn. Họ thu được 9 khẩu súng các loại. Sau đó đốt doanh trại của Văn Thân.

Thấy không chiến thắng bằng vũ lực được, quân Văn Thân, một mặt mời cựu Đô Đốc Chưởng Thuỷ Tý đến để quyết hạ Trà Kiệu, một mặt siết chặt vòng vây nhằm làm cho giáo dân chết vì tuyệt lương. Có vậy thì ít ra họ cũng sẽ chiến thắng. Quả vậy, không chuẩn bị nên trong Giáo Xứ bắt đầu cạn nguồn lương thực.

Sang 14 tháng 9 là một ngày đầy căng thẳng, ở mạng Nam quân Văn Thân đông vô kể đã chiếm thành Chiêm và áp sát Giáo Xứ. Trong ngày 14 này quân Văn Thân còn có cả voi chiến nữa. Nguy tử đến nơi, nên ngay từ đầu đội dự bị nữ (đội 8) được triển khai chuẩn bị chiến đấu.

Lạ thay, giáo dân vừa mới ra trận chưa đánh thì quân Văn Thân đã tháo lui bỏ chạy, mặc cho Chưởng Thuỷ Tý ngăn cản hô hào tiến lên. Cuối cùng chính Đô Đốc Chưởng Thuỷ Tý cũng bỏ mạng trong trận này. Còn đối với voi trận, chỉ với bó đuối giáo dân làm cho chúng tan tác.

Không tưởng ra được. Qua đây một cách nào đó cho thấy ắt hẳn phải có bàn tay thiêng liêng từ trời cao can thiệp giúp giáo dân Trà Kiệu thắng trận.

Sang ngày 15–9 một mặt lo củng cố, một mặt quân Văn Thân cho bắn đạn ria xuống Giáo Xứ, mỗi phát có từ 80 đến 100 viên. Có lần chính Cố Nhơn hưởng trọn một quả như vậy khi đang núp sau bụi tre. Cha cứ nghĩ thế là xong đời mình, theo bản năng tự nhiên, Cha sờ khắp mình và không thể tin được là mình vẫn còn sống mà lại chẳng hề hấn gì.

Mười lăm ngày trôi qua, mỗi ngày cuộc chiến càng khốc liệt, với điều kiện chênh lệch giữa hai bên như vậy mà Giáo Xứ Trà Kiệu vẫn còn đó, “chắc chắn là họ được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở cách riêng”. Chúng ta hãy xem rồi sẽ kết thúc ra sao ?

Trong ngày 16–9–1885 quân Văn Thân mở ba cuộc hoả công, hai ở phía Bắc, một ở mạn Đông Giáo Xứ. Ở mạn Đông lại gặp đội 1 là đội quân cột trụ của Giáo Xứ từng làm quân Văn Thân phải khiếp sợ, do ông Trương Phổ chỉ huy. Cuộc chiến không kéo dài, chỉ chốc lát là quân Văn Thân bỏ mọi sự lo chạy giữ lấy thân. Trà Kiệu lại có thêm một chiến thắng nữa.

Ngày 17–9 quân Văn Thân án binh.

Ngày 18–9 quân Văn Thân dùng sào dài với một đầu được bó đầy gai dùng để “bổ xuống tóc người Công giáo”. Nhưng rồi họ cũng thất bại.

Bại trận liên miên, quân Văn Thân mệt mỏi, mất tinh thần, có kẻ đào ngũ nên họ án binh bất động suốt hai ngày 19 và 20 tháng 9. Còn phía giáo dân, mặc dù chiến thắng nhưng quân Văn Thân vẫn còn đó, lương thực lại thiếu đã gây nên khủng hoảng hơn cả phía quân Văn Thân nữa.

Vì vậy giáo dân Trà Kiệu quyết định tấn công đẩy quân thù ra thật xa. Để được vậy trước tiên phải lấy lại đồi Non Trọc (Bửu Châu) đã.

Ngày 21–9 trước khi khai màn trận chiến, giáo dân Trà Kiệu cầu xin sự trợ giúp và che chở của Mẹ Maria Đồng Trinh. Đây là cuộc tấn công có tính quyết định nên mọi việc triển khai rất chu đáo. Khi phát hiện giáo dân chủ động tấn công, quân Văn Thân thúc voi ra trận và kìa lạ chưa, voi chiến không những không tiến mà còn lùi nữa mặc cho những tay nài không ngừng thúc búa lên đầu chúng.

Lúc đó, giáo dân Trà Kiệu nghe rất rõ tiếng quân Văn Thân kêu la: “Hãy nhìn kìa, đạo quân trẻ nhỏ xuống từ trên các luỹ tre, chạy là tốt nhất. Người Công Giáo đông quá”. Còn phía giáo dân thì chẳng thấy gì cả.

Sau phát súng hạ gục tên Văn Thân đầu tiên trên đỉnh đồi Bửu Châu thì quân Văn Thân một sức tháo chạy. Vì sợ người Công Giáo đuổi theo, quân Văn Thân chạy liên tục không nghỉ ra xa khỏi Trà Kiệu khoảng từ 15 đến 20km.

Chính ngày hôm nay 21-9 vòng vây bị phá tan. Toàn thể giáo dân Trà Kiệu kéo về tạ ơn Chúa, Đức Mẹ và các Thiên Thần.

Đến ngày 23–9–1885 quân Văn Thân trở lại tấn công Trà Kiệu nhưng khi còn cách Trà Kiệu chừng 5km thì họ chạy trốn. Vì lúc đến cầu Câu Lâu họ nghe một tiếng nổ khủng khiếp và biết rằng thủ phủ Quảng Nam đã bị Pháp chiếm cứ.

Lần cuối cùng quân Văn Thân đến bao vây Trà Kiệu là ngày 20–4–1886, nhưng sớm tan rã để rồi không bao giờ trở lại Trà Kiệu nữa.

@ Sau khi theo dõi 21 ngày đêm cuộc can qua, chắc chắn người đọc đã nhận ra rằng: Giáo dân Trà Kiệu hoàn toàn không tự mình thoát khỏi sự bách-diệt. Mà rõ ràng có nguồn trợ lực thiêng liêng nào đó;chính là Thiên Chúa và Mẹ Maria vậy.

Từ đó về sau, Trà Kiệu luôn hưởng được sự an bình cách lạ lùng, điều mà không riêng chi giáo hữu Trà Kiệu mà ngay cả bà con lương dân cũng như những người hiểu thời cuộc đều nhận thấy Trà Kiệu khó lòng mà có được sự bình an như vậy.

Ngàn đời tri ân Mẹ

“Đức Bà phù hộ các giáo hữu”, đây là tước hiệu của Đức Mẹ mà giáo dân Trà Kiệu khi xây ngôi Thánh đường trên đồi Bửu Châu lộng gió năm 1898 đã dâng kính Mẹ. Điều này nói lên tâm tình ngàn đời mãi tri ân Mẹ và nhắc nhở con cháu muôn thế hệ về sau nhớ đến Hồng Ân cao cả này của Mẹ. Ngôi Thánh đường này ban đầu được làm bằng gỗ, đến năm 1927 Cha Tardieu cho xây lại bằng gạch, mái lợp ngói đất nung.

Đến năm 1966, Cha Lê Như Hảo cho xây lại kiên cố nguy nga hơn dựa theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Và được tu bổ khang trang như ngày nay sau một trận lở là do Cha Nguyễn Trường Thăng.

Bên cạnh đó ngay năm 1889 giáo dân Trà Kiệu và Cha xứ đã trùng tu lại Nhà Thờ chính để bày tỏ lòng tri ân Thiên Chúa và Mẹ Maria. Đến năm 1970 Cha Lê Như Hảo cho xây ngôi Thánh đường hai tầng như hiện nay và đã được tu bổ, trang hoàng lại do Cha Phaolô Mai Văn Tôn.

Câu chuyện về phép lạ Đức Mẹ Trà Kiệu không chỉ là một dấu ấn thiêng liêng trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, mà còn là minh chứng sống động cho quyền năng và lòng yêu thương của Mẹ Maria dành cho con cái mình.

Từ một sự kiện tưởng chừng chỉ thuộc về quá khứ, đức tin đã được khơi dậy, những tâm hồn lạc lối đã tìm được ánh sáng, và một vùng đất đã trở thành nơi hành hương linh thiêng cho biết bao thế hệ tín hữu.

Ngày nay, mỗi bước chân về Trà Kiệu không chỉ là hành trình thể xác, mà còn là cuộc hành trình của tâm hồn, nơi con người đến để tìm kiếm sự bình an, đón nhận ân sủng và củng cố niềm tin vào Mẹ Thiên Chúa.

Và như Đan Viện Phụ Huỳnh Quang Sanh đã nhắn nhủ, bất cứ ai khi có dịp trở về quê hương, xin hãy một lần ghé thăm Đức Mẹ Trà Kiệu, để cảm nhận sự chở che dịu dàng của Mẹ và đón nhận những ơn lành Mẹ luôn rộng tay ban phát.

Dòng Biển Đức (Ordo Sancti Benedicti – OSB), còn gọi là Đan Viện Biển Đức, là một dòng tu Công giáo có truyền thống lâu đời, khởi nguồn từ Thánh Biển Đức (St. Benedict of Nursia) vào thế kỷ VI. Dòng tu này nhấn mạnh đời sống cầu nguyện, lao động và tuân thủ kỷ luật thiêng liêng, được tóm gọn trong châm ngôn “Ora et Labora” (Cầu nguyện và Lao động).

Các đan sĩ Biển Đức sống trong các đan viện, thực hành đời sống chiêm niệm, phụng vụ và làm việc để nuôi sống cộng đoàn. Hệ thống đan viện của dòng không tập trung thành một tổ chức duy nhất mà hoạt động theo từng đan viện tự trị, với một đan viện phụ đứng đầu.

Tại Việt Nam, Dòng Biển Đức đã có mặt từ cuối thế kỷ XIX, với nhiều đan viện hiện diện khắp cả nước, góp phần vào việc truyền giáo, giáo dục và đời sống tâm linh của các tín hữu.

ÐÔI NÉT VỀ GIÁO XỨ TRÀ KIỆU ( PHẦN TÓM LƯỢC )

I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Trà Kiệu một giáo xứ bé nhỏ, ẩn mình ở chốn nông thôn rừng núi, nhưng là một Giáo xứ được Mẹ Maria che chở một cách đặc biệt. Trà Kiệu cũng là một Giáo xứ kỳ cựu nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam.

Trước năm 1009 thì chính địa giới của Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay là Kinh Ðô của Vương Quốc Chămpa tức là Chiêm Thành, và được gọi là Sư Tử Thành (Simhapura). Sau năm 1009 thì Kinh Ðô Chiêm Chúa được dời vào Ðồ Bàn (Bình Ðịnh).

Do cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, nhất là từ năm 1470, sau cuộc bình Chiêm đại thắng của vua Lê Thánh Tông, dân tộc Việt Nam từ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… được khuyến khích di dân vào Nam để khai hoang vỡ hóa những vùng đất do Chiêm Thành để lại.

Và theo phả hệ của các chư tộc tại Trà Kiệu thì vào thời kỳ này (1470 – 1479) có 13 vị Thỉ Tổ theo bước chân Nam tiến của vua Lê, đã đưa vợ con gia đình vào vùng đất Chiêm Ðộng (tức vùng Trung huyện Duy Xuyên ngày nay) mà khai cơ thác thổ. Rồi sau đó lại có nhiều vị Thứ Thế Tiền Hiền vào đây tiếp tay khai phá và tạo nên một vùng đất canh tác bao la rộng lớn gần 2000 mẫu, nên sau đó mới phân cương định giới và lập xã hiệu là Trà Kiệu xã.

Ranh giới Trà Kiệu như sau:
– Nam khóa Tào sơn (Nam trùm núi Hòn Tàu)
– Bắc cự Sài thủy (Bắc đạp sông Chợ Củi (Câu Lâu)
– Ðông lâm Quế hạt (Ðông giáp khu đông Quế Sơn)
– Tây chấm Tùng sơn (Tây gối núi Dương Thông)

Ðến năm Thành Thái thứ 11 (1905) xã Trà Kiệu vì quá rộng lớn nên mới được chia ra làm 5 xã riêng biệt gồm có: Trà Kiệu Trung – Trà Kiệu Ðông – Trà Kiệu Nam – Trà Kiệu Tây – Trà Kiệu Thượng (gọi chung là ngũ Trà). Xã Trà Kiệu Thượng tức là xã dành cho anh em công giáo sống riêng ở trên Thành Chiêm (tức là Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay). Ðất đai tài sản của xã Trà Kiệu ngày trước được chia đều cho 5 xã theo số lượng nhân khẩu. Duy chỉ có nhà thờ tiên tổ (sau gọi là nhà thờ ngũ xã), và đất đai từ đường (7 mẫu, 3 sào) thì vẫn giữ nguyên để con cháu ngũ xã về niệm hương lễ bái công đức các bậc tiền bối nhân dịp xuân thu nhị kỳ…

Trải qua bao đời biến đổi, 4 xã Trà Kiệu Ðông, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Trung và Trà Kiệu Tây, đã thay đổi tên hiệu, không còn gọi là Trà Kiệu nữa. Duy chỉ có xã Trà Kiệu Thượng (tức là Giáo xứ Trà Kiệu) thì cho đến nay vẫn còn giữ tên “Trà Kiệu” thuở ban đầu.

II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO XỨ TRÀ KIỆU:

Giáo xứ Trà Kiệu cách Thành phố Ðà Nẵng chừng 40km về phía Tây Nam. Trên con đường xuyên Việt Bắc-Nam (quốc lộ số 1), khi đến trạm Nam Phước (tức Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), rẽ về hướng Tây theo tỉnh lộ 610 (đường đi khu di tích Mỹ Sơn) chừng 7km, khách hành hương sẽ đến Giáo xứ Trà Kiệu hay còn gọi là Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu.

Giáo xứ Trà Kiệu tọa lạc trên một phần đất vuông vức, mỗi bề dài khoảng 1km, lại nằm giữa một cảnh quan thôn dã an bình và xinh đẹp. Vì trước đây Trà Kiệu là Kinh đô huy hoàng của Chiêm quốc với cảnh núi đồi sông nước rất nên thơ và tráng lệ.

“Ðiện các huy hoàng trong ánh nắng,
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh”.

Thế nhưng hôm nay đền đài thành quách của Chiêm quốc đã điêu tàn đổ nát, một số nền móng lâu đài đã được Trường Viễn Ðông Bác Cổ khai quật, đào bới. Một số thành lũy đã đứt nối oằn oại dưới những ngôi nhà của cư dân.

Nếu thật chú ý chúng ta mới có thể nhận ra được một vài di tích còn sót lại nhưng không trọn vẹn, đó là:

– Ở phía Ðông Giáo xứ có hòn Bửu Châu (hay còn gọi là Non Trược, hay Non Trọc) mà người ta tin rằng đó là kỳ đài của kinh thành. Hòn Bửu Châu án ngữ ngay sau hậu cung của Chiêm Chúa. Ngày nay Hòn Bửu Châu đã trở thành Ðền Mẹ Trà Kiệu – Trung tâm Thánh Mẫu (Hoàng cung tọa lạc ở xóm Hoàng Châu, quay mặt về hướng Ðông).

– Ở phía Bắc là dãy thành đất chạy song song với con sông Thu Bồn, từ chân đồi Bửu Châu lên hướng Tây, đến chân núi Kim Sơn (Hòn Bằng) dài độ 1000 mét. Trên mặt thành đất này dân cư đã xây dựng nhà cửa và ngôi chợ Hàm Rồng ở vào khoảng giữa.

– Ở phía Tây có rặng đồi Kim Sơn và dãy thành lũy chạy dọc theo con suối Hố Diêu vào phía nam dài độ 500 mét. Dãy thành này hiện là khu nhà thờ, nhà xứ, cô nhi viện, Phước viện và cư dân.

– Ở phía Nam có dãy thành cao, rộng, chạy từ hướng Tây xuống hướng Ðông đến hồ Hoàng Châu, giáp với cổng thành phía Ðông. Dãy thành này dài trên một kilômét và hiện nay là khu dân cư thuộc phái nam của giáo xứ.

Tại giáo xứ Trà Kiệu hiện nay còn có một số địa danh quen thuộc, mà chúng ta cần biết đó là: Ðồi Bửu Châu, Ðồi Kim Sơn, Hàm Rồng, Hòn Gành, Bến Giá, Hòn Ấn…

* Bước đầu truyền giáo:

Hiện nay chúng ta không thể biết chính xác là vào thời điểm nào “Tin Mừng” được rao giảng tại Trà Kiệu, và vị giáo sĩ truyền giáo nào đã đặt chân đến Trà Kiệu trước tiên.

Theo một số sử gia thì trước khi các linh mục Dòng Tên do Cha Buzomi dẫn đầu, đến Hội An để chính thức tổ chức công cuộc truyền giáo ở Ðàng Trong (1615), thì đã có các linh mục dòng Phanxicô đến truyền giáo tại Hội An và các vùng phụ cận. Và sử liệu cũng có ghi là vào năm 1558, một linh mục dòng Phanxicô đã rửa tội cho bà chị quan trấn thủ Quảng Nam với thánh hiệu là Phanxica (Bà Phanxica là chị của quan trấn thủ Quảng Nam, là con của Chúa Nguyễn Hoàng). Một điều khác là sử liệu cũng cho chúng ta biết là Trà Kiệu đã được các Cha dòng Phanxicô cai quản cho đến khoảng năm 1810 mới bàn giao lại cho các Linh mục thừa sai Hội Truyền Giáo nước ngoài Ba-lê (MEP). Hơn nữa Hội An là cửa ngõ của Trà Kiệu, vì trước đây Hội An, Cửa Ðại (Chiêm) là cửa ra vào kinh đô Trà Kiệu của Vương Quốc Chàm (Champa). Cho mãi đến thời kỳ Chúa Nguyễn quản trấn Quảng Nam, thì Trà Kiệu vẫn là nơi giao lưu buôn bán phồn thịnh với Hội An nhờ dòng sông Thu Bồn, Bà Rén. Trà Kiệu còn là khu dân cư đông đúc trù phú nhất tỉnh (nhất Trà Kiệu, nhì La Qua, ba Tú Tràng…) là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh, là kinh đô của Chiêm quốc (Sư tử Thành) có phong cảnh nên thơ và trữ tình. Thuyền bè buôn bán, ngao du, từ Hội An lên Trà Kiệu, Thu Bồn rất tấp nập. Kể cả thuyền rồng của các Chúa Nguyễn cũng thường xuyên lên xuống, và thường ghé lại Trà Kiệu nên có địa danh “Bến giá” (để cho thuyền rồng nhà Chúa đậu lại).

Do hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi như thế, chúng ta có thể nghĩ rằng: Trà Kiệu đã được ghi vào lược đồ truyền giáo của các Linh mục dòng Phanxicô rất sớm. Ngoài Hội An và vùng phụ cận thì Trà Kiệu có thể là nơi các Linh mục dòng Phanxicô đặt chân lên sớm nhất. Tuy nhiên đây cũng là bước khởi đầu, chỉ có tính cách giao lưu thăm dò chưa được tổ chức chu đáo. Phải đợi cho đến khoảng năm 1628 – 1630 Tin Mừng mới được bén rể và phát triển tại Trà Kiệu. Giáo xứ sơ khai được hình thành, qua sự kiện một số gia đình con cháu trong xã (Trà Kiệu), lên sống riêng biệt ở trên Nội Thành Chiêm để tạo lập giáo đường mà đọc kinh cầu nguyện, không còn tham dự lễ bái ở Ðình thờ tổ tiên nữa.

* Giai đoạn từ 1630 đến 1862

– Thời gian thành lập Giáo xứ:

Về việc thành lập Giáo xứ Trà Kiệu, chúng tôi căn cứ vào một số tư liệu gần đây như tập “Nguyên Trà Kiệu ngũ xã phong tặng tiền hiền sự tích”… và một số tư liệu khác, thì Giáo xứ Trà Kiệu có thể được hình thành vào khoảng năm 1630.

Giai đoạn này cũng rất ít tư liệu và không rõ ràng, cho mãi đến năm 1862, là năm mà các sinh hoạt của Giáo xứ còn được lưu lại (như Sổ Rửa tội, bút tích của các Cha Quản xứ…)

Trước hết là tập “Nguyên Trà Kiệu ngũ xã phong tặng Tiền Hiền sự tích Chủ Văn bảng tổng hợp Nhất Quyển” được thiết lập vào năm Khải Ðịnh nhị niên (1917) tại Trà Kiệu ngũ xã, do Lý trưởng của 5 xã Trà Kiệu lúc bấy giờ (Trà Kiệu Thượng – Trung – Tây – Nam – Ðông) ký nhận và đóng dấu, được Chánh tổng Mậu Hòa Trung ký tên và đóng dấu xác thực, đồng thời được con cháu của các chư tộc ký nhận. Các bảng báo trình này đã được nhà vua (Khải Ðịnh) phê duyệt, và ban sắc phong công đức.

Nội dung tư liệu này có 2 phần:

– Phần đầu là phần do chính quyền sở tại Lý trưởng báo trình chung về công đức của các vị tiên tổ đã dày công khai hoang vỡ hóa, chiêu dân lập ấp, để xây dựng nên xã Trà Kiệu Thượng (tức Giáo xứ Trà Kiệu ngày nay). Theo bảng kê khai thì có 11 chư tộc, trong đó có 7 tộc tiền hiền từ thời Lê Hồng Ðức và 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long.

* 7 tộc tiên tổ thời Lê Hồng Ðức ghi theo thứ tự như sau:
1. Lưu Văn Tâm
2. Nguyễn Thanh Cảnh
3. Nguyễn Quang Hoa
4. Nguyễn Ðăng Ứng
5. Ðinh Công Triều
6. Lê Văn Càng
7. Nguyễn Viết Bỉnh
* 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long ghi theo thứ tự như sau:
8. Phạm cảnh Tộc
9. Nguyễn văn Tộc
10. Trần Tộc
11. Ðoàn công Tộc

Các vị tiền hiền hậu hiền Trà Kiệu Thượng đã khai canh khai khẩn được 221 mẫu ruộng, cả công tư điền thổ, và thứ thế sinh hạ nhơn đinh tráng lão 157 người.

– Trong phần thứ hai là 11 bảng kê khai công đức Tiền hiền và phả hệ chư tộc cũng như sinh hạ kế thế của 11 chư tộc kể trên. Các bảng kê khai này do chính con cháu trong tộc họ mình tự đứng ra kê khai.

Theo bản khai trình thì có 7 vị tộc tổ của xã Trà Kiệu Thượng (Giáo xứ Trà Kiệu) trong đó có 5 vị nguyên là con cháu của 13 vị thủy tổ khai cơ tiền hiền từ thời Hồng Ðức (Lê Thánh Tông, 1470 – 1479): Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng và Ðinh Công Triều. Họ là những người địa phương, đã định cư tại Trà Kiệu từ trước kia và nay vì theo đạo Chúa nên tách ra, lên ở riêng trên Nội Thành Chiêm.

Còn 2 vị tộc tổ Lê Văn Càng và Nguyễn Viết Bỉnh thì đã có đạo rồi nhưng ở nơi khác cùng đến (thời Lê Thần Tông) ở chung với 5 vị tổ mới theo đạo. Tất cả 7 vị đến lập cư tại Nội Thành Chiêm, cùng thuộc bổn xã Trà Kiệu, để sinh sống, xây dựng nguyện đường để đọc kinh cầu nguyện. Ðoạn văn trong tờ khai trình đã viết:

“Chi Lê Triều Thần Tông niên gian, dân xã chư tộc tiên tổ thủy tổ Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng, Ðinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (do Lê văn, Nguyễn viết nguyên phụng Thiên Chúa giáo) tòng Thiên Chúa giáo, biệt lập giáo đường lễ sở tại bổn xã nội thành xứ:.

Nghĩa là: “Ðến đời Lê Thần Tông (1619 – 1643) có các tộc tổ của xã là: Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Ðăng Ứng, Ðinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (vì Lê văn, Nguyễn viết nguyên đã thờ phụng Thiên Chúa) theo đạo Công Giáo, nên lên xây dựng Thánh đường riêng biệt để lễ bái, tại nội thành Chiêm, cùng thuộc bổn xã”. Chữ “Tòng Thiên Chúa giáo” ở đây là dành riêng cho 5 vị ở trên.

Ðồng thời chúng tôi cũng sưu tìm được một trang thủ bút quý hiếm của Linh mục Lalanne (cố Lân), Cha quản xứ Trà Kiệu (từ năm 1922 – 1938) về việc chính thức công nhận các vị tiền hiền của Giáo xứ Trà Kiệu. Ðó là bản viết tay của Linh mục Joseph Lalanne, xác nhận về các vị “Tiền hiền làng Trà Kiệu”, có chữ ký và con dấu của Lý trưởng Nguyễn Thanh Hương xác thực. Bản xác nhận này được viết vào ngày 2 tháng 7 năm 1925 tại Giáo xứ Trà Kiệu và có nội dung như sau: (xem thêm bản gốc)

“Tiền hiền làng Trà Kiệu là:

1. Lưu Văn Tâm.
2. Nguyễn Thanh Cảnh.
3. Nguyễn Quang Ba (Hoa).
4. Nguyễn Ðăng Ứng.
5. Ðinh Công Triều.
6. Lê Văn Càng.
7. Nguyễn Viết Bỉnh”.

Các đấng ấy lập sở làng Trà Kiệu từ năm 1630 đến 1640 đời vua Lê Thần Tông (1619 – 1943). Nhà thờ trước hết được xây dựng ở vườn ông thầy Long, sau đời Ðức Cha Lợi làm Cha sở Giáo xứ Trà Kiệu thì dời qua chỗ đương còn…

Giáo xứ Trà Kiệu chắc chắn đã được rao giảng Tin Mừng trước khi các vị tiền bối của chúng ta lên ở riêng trên Nội thành Chiêm để giữ đạo (1630). Thời điểm rao giảng Tin Mừng ở Trà Kiệu chậm nhất cũng là vào thời kỳ 1615 đến 1628. Vì theo như Cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhode) cho biết thì vào năm 1625 việc rao giảng Tin Mừng đã được loan báo khắp các khu dân cư lớn ở xứ Nam. Cha ghi như sau: “Năm 1625 đạo Công Giáo được rao giảng khắp các xứ lớn ở miền Nam. Chúng tôi (Cha Ðắc Lộ) tất cả là 10 Cha Dòng. Công việc thật vất vả, nhưng chúng tôi không lấy gì làm nặng nhọc, vì Ðấng mà chúng tôi phụng sự đã nâng đỡ chúng tôi tỏ tường, giúp chúng tôi thu hoạch được những kết quả vượt khả năng và ước muốn của chúng tôi…

Sau khi 7 vị sáng lập Giáo xứ Trà Kiệu đã tách ra ở riêng trên nội thành Chiêm, thì công việc đầu tiên của các vị là xây dựng “Nhà nguyện” để cùng đọc kinh cầu nguyện chung với nhau. Chúng ta cũng không biết chính xác là nhà nguyện ban đầu này được xây dựng từ năm nào, nhưng theo ông Cao Ðức Phong (Câu kinh) thì đã quả quyết là “có từ lâu… và biết rõ một điều là nhà thờ đã có trước thời 1681 – 1682”. Và cũng theo khẩu truyền, thì ngôi nhà nguyện đầu tiên này được xây dựng tại phái (khóm) Ðông trên khu đất vườn ông Trương Tạ, và hiện nay là khu vườn nhà ông thầy Long (Xem thêm phần Thánh đường Trà Kiệu).


CGVST.COM

G I B I CHO CGVST COM

Tin mới cập nhật